Đăng lúc: 14/03/2018 10:00:12 AM
 
Những vấn đề có tính lý luận và thực tiễn trong hoạt động công đoàn hiện nay
Sự nghiệp đổi mới của nước ta hiện nay đã bước sang năm thứ 31 và Việt Nam đang ngày càng tham gia sâu vào nền kinh tế thị trường. Với luật chơi của hội nhập quốc tế, chúng ta sẽ phải tiếp tục hoàn thiện pháp luật và thể chế để kinh tế vận hành theo quy luật thị trường đầy đủ.
             Trong kinh tế thị trường, quan hệ chủ - thợ được phân biệt rõ bởi yếu tố lợi nhuận và lợi ích: lợi nhuận của doanh nghiệp, lợi ích của người lao động. Trong nền kinh tế bao cấp trước đây chúng ta áp dụng nguyên tắc sản xuất – phân phối, cùng làm cùng chia sẻ. Vì vậy Công đoàn với doanh nghiệp xây dựng và vận động công nhân hoàn thành kế hoạch sản xuất tạo ra lợi nhuận, và từ đó chủ doanh nghiệp và người lao động cùng chia sẻ lợi nhuận. Vì vậy vai trò của Công đoàn trong giai đoạn này chính là phân chia lợi ích làm sao để công bằng nhất trên tiêu chí mọi người đều được hưởng phần phân chia như nhau. Khi bước vào kinh tế thị trường, đối với các doanh nghiệp mục tiêu lợi nhuận được đặt lên hàng đầu. Để nâng cao hiệu quả sản xuất - kinh doanh, doanh nghiệp tìm mọi cách cắt giảm chi phí, kể cả chi phí cho người lao động. Đặc biệt trong bối cảnh phát triển công nghiệp của những năm qua, một số lĩnh vực dựa trên lợi thế lao động số đông thì chi phí cho lao động là khoản chi đáng kể đối với doanh nghiệp.
           1. Xu hướng của nền kinh tế
           Hiện nay nền kinh tế theo các xu hướng mới, đó là:
          - Sự phát triển của công nghệ thông tin thông qua mở rộng internet, sự phát triển khoa học - kỹ thuật và sáng kiến quản lý vì mục tiêu chi phí hiệu quả đang làm cho mối quan hệ giữa người lao động và người sử dụng lao động trở nên “lỏng lẻo” và ít ràng buộc hơn. Nếu trong công việc trước đây, thực tiễn quan hệ việc làm có đặc trưng là người sử dụng lao động chịu trách nhiệm về điều kiện lao động và an toàn của người lao động mà họ sử dụng, thì ngày nay chúng ta thấy một số doanh nghiệp có xu hướng ngược lại. Mục tiêu của cách quản lý này là giảm bớt ràng buộc trong quan hệ lao động và doanh nghiệp cắt giảm được các khoản chi phí quản lý (lách luật).
            - Việc làm với sự ràng buộc của quan hệ chủ - thợ hay là trách nhiệm của người sử dụng lao động đối với người lao động đang giảm đi và thay bằng các loại hình thức việc làm do chính các doanh nghiệp nghĩ ra vì mục tiêu giảm chi phí lao động. Các hình thức việc làm không thường xuyên, việc làm tạm thời, nửa buổi, thầu phụ, thầu lại…xuất hiện ngày càng nhiều. Các doanh nghiệp tìm cách giảm bớt lao động thường xuyên và gia tăng sử dụng lao động không thường xuyên, lao động tạm thời, gia tăng sử dụng lao động nữ, lao động tập sự, lao động học nghề…giảm bớt thuê lao động.
 
Cán bộ công chức Cục Hải quan Quảng Ngãi tác nghiệp tại KKT Dung Quất
 
            2. Sức mạnh của tổ chức Công đoàn và sự vận hành
            Để đánh giá đúng về mình và phát huy đầy đủ chức năng, nhiệm vụ đại diện, bảo vệ người lao động trở thành mục tiêu hành động của tổ chức Công đoàn trong tình hình mới. Điều này không cần phải bàn cãi, tuy nhiên để thực hiện được một cách hiệu quả Công đoàn cần thấy được việc sử dụng nguồn sức mạnh của mình.
            Trước hết là sức mạnh thể chế. Sức mạnh thể chế chính là sức mạnh của Công đoàn hành động thông qua con đường pháp luật. Công đoàn tham gia xây dựng pháp luật với các điều khoản bảo vệ quyền lợi người lao động và đòi hỏi pháp luật phải được thực thi thông qua các cơ chế thực thi như: hòa giải, trọng tài, thanh tra lao động, khởi kiện…để vận hành đầy đủ, đồng bộ.
            Tiếp đến là sức mạnh của đoàn viên. Sức mạnh đoàn viên là sức mạnh đoàn kết của tập thể người lao động trong tổ chức Công đoàn trước người sử dụng lao động và người lao động cùng đồng hành với Công đoàn. Sức mạnh thể chế tạo cho Công đoàn vai trò: trung gian, hòa giải, phán xử khi pháp luật không được thực thi nhưng sức mạnh đoàn viên tạo cho Công đoàn vai trò đại diện để cải thiện lợi ích của đoàn viên. Điều này có nghĩa là nếu Công đoàn muốn thật sự là tổ chức đại diện của người lao động, Công đoàn phải sử dụng sức mạnh đoàn viên chứ không thể chỉ có sức mạnh thể chế. Sức mạnh đoàn viên đặc biệt thể hiện thông qua con đường thương lượng tập thể. Sức mạnh đoàn viên buộc người sử dụng lao động phải thương lượng, phải đi đến thỏa thuận và thực hiện thỏa thuận. Sức mạnh đó có thể không cần sử dụng tới, nhưng sức mạnh đó phải được thể hiện ra và người sử dụng lao động phải nhìn thấy sức mạnh đó là có thật. Nếu người sử dụng lao động không nhìn thấy sức mạnh đó của Công đoàn và tập thể người lao động thì sẽ không có thương lượng tập thể mà chỉ có nài xin tập thể. Việc biểu lộ sức mạnh đoàn viên thực hiện thông qua hành động tập thể, đoàn kết của đoàn viên và người lao động, cho thấy người lao động và đoàn viên luôn theo sát các việc Công đoàn làm trong khi Công đoàn đối mặt với người sử dụng lao động.
            3. Công đoàn phải làm cho đoàn viên tích cực, chủ động với tổ chức của mình.
          Trong tất cả các nhiệm vụ hiện nay Công đoàn đang làm và sẽ làm như tham gia xây dựng pháp luật, thương lượng tập thể, giải quyết tranh chấp lao động, khiếu kiện doanh nghiệp nợ bảo hiểm xã hội người lao động, xây dựng các thiết chế văn hóa, nhà ở cho công nhân…cách làm này đạt nhiều kết quả quan trọng nhưng sự vào cuộc, tích cực của đoàn viên, người lao động còn quá ít. Chúng ta cần phải thay đổi cả tư duy và cách làm để lôi cuốn người lao động vào cuộc, cộng đồng trách nhiệm cao hơn để đạt được mục tiêu chăm lo đời sống, bảo vệ quyền lợi của người lao động tốt hơn, người lao động thấy thật sự cần hơn ở tổ chức Công đoàn. Công đoàn không thể đóng vai trò là bên thứ ba trung gian, hòa giải mà phải đại diện cho người lao động, được người lao động ủy thác trong việc bảo vệ quyền, lợi ích trước người sử dụng lao động. Chúng ta cần chuyển từ phương pháp hoạt động có tính chất hành chính và phương thức làm thay sang phương pháp cộng đồng trách nhiệm: trách nhiệm của Công đoàn và nghĩa vụ của đoàn viên.
           Với phương thức cộng đồng trách nhiệm, đoàn viên, người lao động sẵn sàng hành động tập thể thể hiện sức mạnh, sức thống nhất ý chí hành động trong hoạt động công đoàn, trong trách nhiệm của mình với tổ chức. Và từ đó, chúng ta tạo ra cơ chế bảo vệ cán bộ công đoàn, bởi đoàn viên chính là người bảo vệ cán bộ công đoàn hiệu quả nhất. Chúng ta đang tập trung phát triển đoàn viên theo hướng thực chất để khi người lao động trở thành đoàn viên công đoàn họ có trách nhiệm hơn trong việc xây dựng tổ chức Công đoàn vững mạnh, chứng minh với người sử dụng lao động mục đích hoạt động công đoàn là đồng hành cùng doanh nghiệp trong sản xuất, kinh doanh, trong phát triển bền vững.
            Kinh tế thị trường với mục tiêu lợi nhuận và lợi ích khác nhau, Công đoàn phải có cách làm sáng tạo, phát huy trách nhiệm và sự nhiệt tình của cán bộ Công đoàn, đồng thời hiệu triệu được sức mạnh của đoàn viên, người lao động để chúng ta vững vàng trong “bão tố” của kinh tế thị trường. Từ cách nhìn trên, tôi nghĩ rằng tổ chức Công đoàn nói chung và Công đoàn Quảng Ngãi nói riêng sẽ thành công mới trong xây dựng tổ chức, trong vai trò đại diện để Công đoàn đóng góp tốt hơn vào nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội đạt được mục tiêu sớm đưa Quảng Ngãi trở thành tỉnh công nghiệp theo hướng hiện đại.
 
                                                                         Lê Tấn Tứ, Phó Chủ tịch LĐLĐ tỉnh
 

    

VĂN BẢN MỚI
LIÊN KẾT WEB
Thống kê truy cập
Hôm nay: 3,609
Hôm qua: 5,712
Tuần này: 19,933
Tuần trước: 21,958
Tháng này: 586,635
Tháng trước: 390,098
Tổng lượt truy cập: 4,632,621
Số người online: 51