Đăng lúc: 04/11/2020 10:57:20 AM
 
Nâng cao chất lượng nguồn nhân lực gắn với đẩy mạnh đổi mới sáng tạo, ứng dụng và phát triển mạnh mẽ khoa học, công nghệ
Giai cấp công nhân Việt Nam là lực lượng đi đầu trong sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước vì mục tiêu dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh; có sứ mệnh lãnh đạo cách mạng thông qua đội tiền phong là Đảng Cộng sản Việt Nam. Để thực hiện sứ mệnh lịch sử này, giai cấp công nhân Việt Nam cần được xây dựng về nhiều mặt, trong đó đào tạo nâng cao chất lượng nguồn nhân lực là một nhiệm vụ rất quan trọng.

Dự thảo Báo cáo đánh giá kết quả thực hiện nhiệm vụ phát triển kinh tế-xã hội 5 năm 2016 - 2020 và phương hướng, nhiệm vụ phát triển kinh tế-xã hội 5 năm 2021 – 2025 của Ban Chấp hành Trung ương Khóa XII trình Đại hội lần thứ XIII của Đảng đã đề ra nhiệm vụ Nâng cao chất lượng nguồn nhân lực gắn với đẩy mạnh đổi mới sáng tạo, ứng dụng và phát triển mạnh mẽ khoa học, công nghệ để đón nhận cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ 4 (4.0).

Nhiệm vụ trên có 2 nội dung chính như sau:

1. Tiếp tục đẩy mạnh phát triển nguồn nhân lực, nhất là nhân lực chất lượng cao, trọng tâm là hiện đại hoá, nâng cao chất lượng giáo dục, đào tạo để đáp ứng yêu cầu phát triển trong bối cảnh cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư và hội nhập quốc tế sâu rộng

Thực hiện đồng bộ các cơ chế, chính sách, giải pháp phát triển nguồn nhân lực, nhất là nhân lực chất lượng cao trong các ngành, lĩnh vực chủ yếu đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội. Tập trung nâng cao chất lượng nguồn nhân lực gắn với chuyển dịch nhanh cơ cấu lao động, nhất là ở nông thôn. Triển khai có hiệu quả hệ thống giáo dục quốc dân mới theo các mục tiêu đổi mới căn bản và toàn diện giáo dục, đào tạo. Đa dạng hoá phương thức đào tạo dựa theo mô hình giáo dục mở, khung trình độ quốc gia, gắn với thị trường và đáp ứng yêu cầu cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư. Chuẩn bị nguồn nhân lực cho chuyển đổi số để phát triển xã hội số.

Rà soát, quy hoạch, phát triển mạng lưới cơ sở giáo dục, đào tạo trên cả nước đáp ứng nhu cầu học tập suốt đời, xây dựng xã hội học tập và gắn với quy hoạch nguồn nhân lực và phát triển kinh tế - xã hội. Đẩy mạnh công tác hướng nghiệp, phân luồng, liên thông trong giáo dục, đào tạo. Tăng cường đào tạo thường xuyên và đào tạo lại cho người lao động.

Đẩy mạnh giáo dục kỹ năng, ứng dụng tiến bộ khoa học - kỹ thuật, công nghệ thông tin, công nghệ số trong giáo dục - đào tạo; thực hiện theo lộ trình phổ cập kỹ năng số, kỹ năng bảo đảm an toàn, an ninh mạng đạt trình độ cơ bản cho người dân. Tiến tới phổ cập trung học phổ thông gắn với phân luồng trong giáo dục. Giảm tỉ lệ mù chữ, bỏ học ở miền núi. Phổ cập, xoá mù về công nghệ, tri thức công nghệ cho người dân. Nâng cao chất lượng đội ngũ giáo viên và cán bộ quản lý giáo dục các cấp. Tăng cường công tác kiểm định chất lượng cơ sở giáo dục; xếp hạng các trường đại học. Quy hoạch mạng lưới các cơ sở giáo dục đại học, chú trọng các trường sư phạm đào tạo giáo viên; phát triển cơ sở giáo dục đại học chất lượng cao theo chuẩn khu vực và thế giới, ưu tiên nguồn lực phát triển các trường công nghệ. Nâng cao chất lượng dạy học ngoại ngữ ở các cấp học và trình độ đào tạo. Phấn đấu chỉ số phát triển con người (HDI) đạt khoảng 0,7; số sinh viên đại học đạt 270 sinh viên trên 1 vạn dân vào năm 2025.

Tập trung hoàn thiện và nâng cao chất lượng hệ thống thông tin dự báo thị trường lao động và chất lượng dịch vụ việc làm. Xây dựng cơ chế, chính sách để định hướng dịch chuyển lao động thông thoáng, phân bố hợp lý lao động theo vùng. Cải cách tổng thể, đồng bộ chính sách tiền lương theo hướng tuân thủ nguyên tắc phân phối theo lao động và quy luật khách quan của kinh tế thị trường, lấy tăng năng suất lao động và hiệu quả sản xuất kinh doanh là cơ sở để tăng lương. Đổi mới chế độ tuyển dụng, sử dụng, trọng dụng nhân tài trong quản lý, quản trị nhà nước, khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo. Xây dựng quan hệ lao động hài hoà, ổn định, tiến bộ.

2. Thúc đẩy phát triển mạnh mẽ khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo để tạo bứt phá về năng suất, chất lượng, hiệu quả và sức cạnh tranh trong bối cảnh cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư

Tập trung hoàn thiện thể chế, chính sách, pháp luật phù hợp với cơ chế thị trường và thông lệ quốc tế để phát triển khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo, thúc đẩy phát triển kinh tế số, xã hội số, trong đó chú trọng tháo gỡ các rào cản về hệ thống luật pháp và chính sách kinh tế, tài chính đối với hoạt động khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo. Thúc đẩy phát triển mạnh mẽ khoa học xã hội, gắn kết chặt chẽ khoa học xã hội với khoa học tự nhiên và công nghệ để có cơ sở khoa học phục vụ tốt nhất cho sự nghiệp đổi mới và tham gia giải quyết các vấn đề lớn của xã hội. Tập trung phát triển nghiên cứu cơ bản, nghiên cứu ứng dụng công nghệ cốt lõi. Lựa chọn và tập trung hỗ trợ triển khai nghiên cứu, ứng dụng phát triển công nghệ cho một số ngành và lĩnh vực then chốt.

Xây dựng cơ chế, chính sách đặc thù, vượt trội để khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo đáp ứng yêu cầu thực sự là động lực chính của tăng trưởng kinh tế, tạo bứt phá nâng cao năng suất, chất lượng, hiệu quả và sức cạnh tranh của nền kinh tế. Xây dựng các chính sách và thể chế đột phá cho các sản phẩm, dịch vụ, mô hình kinh doanh, công nghệ mới. Đổi mới mạnh mẽ cơ chế quản lý ngân sách nhà nước về khoa học trên tinh thần tiết kiệm, hiệu quả, có tính đến rủi ro và tôn trọng, tôn vinh các nhà khoa học.

Thực hiện chuyển đổi số quốc gia trong quản trị quốc gia, quản lý nhà nước, sản xuất kinh doanh, tổ chức xã hội; thực hiện chuyển đổi số trong các doanh nghiệp (quản trị doanh nghiệp, nguồn nhân lực, dây chuyền sản xuất,...). Ứng dụng và phát triển công nghệ mới, tập trung phát triển công nghệ ưu tiên có khả năng ứng dụng cao, nhất là công nghệ số, thông tin, trí tuệ nhân tạo, cơ điện tử, tự động hoá, điện tử y sinh, sinh học, năng lượng sạch, công nghệ môi trường. Tiếp tục đầu tư và khai thác có hiệu quả các khu công nghệ cao, khu nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao, khu công nghệ thông tin tập trung theo mô hình tiên tiến trên thế giới.

Cơ cấu lại toàn diện hệ thống các cơ sở nghiên cứu khoa học và công nghệ công lập; đổi mới cơ chế hoạt động và chất lượng của hai Viện Hàn lâm. Nâng cao năng lực, hiệu quả hoạt động các cơ sở nghiên cứu, các phòng thí nghiệm trọng điểm quốc gia. Đẩy mạnh nghiên cứu khoa học, công nghệ trong các doanh nghiệp; tăng cường liên kết doanh nghiệp với các viện nghiên cứu, trường đại học, lấy doanh nghiệp làm trung tâm, trường đại học và viện nghiên cứu là chủ thể nghiên cứu mạnh. Tiếp tục thúc đẩy, khuyến khích khu vực tư nhân đầu tư cho khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và khởi nghiệp.

Thực thi hiệu quả chính sách đào tạo, thu hút, trọng dụng cán bộ khoa học và công nghệ, khơi dậy sức sáng tạo, nâng cao trách nhiệm và tôn trọng sự khác biệt trong công tác nghiên cứu khoa học xã hội. Tháo gỡ các vướng mắc trong chính sách đào tạo, thu hút và sử dụng nhân lực khoa học và công nghệ, đặc biệt là nhân lực có trình độ chuyên môn cao, nhà khoa học đầu ngành. Xây dựng, triển khai các chương trình cụ thể để thu hút và phát huy có hiệu quả các nhà khoa học, chuyên gia giỏi là người nước ngoài và người Việt Nam ở nước ngoài.

Phát triển mạnh thị trường khoa học và công nghệ, đặc biệt là mạng lưới các tổ chức trung gian môi giới, đánh giá chuyển giao công nghệ, hỗ trợ nghiên cứu giải mã, làm chủ công nghệ được chuyển giao ở trong nước và từ nước ngoài. Tăng cường công tác bảo hộ và thực thi quyền sở hữu trí tuệ.

Xây dựng và phát triển các trung tâm đổi mới sáng tạo quốc gia, tập trung vào các công nghệ cốt lõi của cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư. Thúc đẩy phát triển mạnh hệ thống đổi mới sáng tạo quốc gia và hệ sinh thái khởi nghiệp sáng tạo, đẩy nhanh thành lập các trung tâm khởi nghiệp sáng tạo quốc gia, trước mắt tại Hà Nội, Đà Nẵng, Thành phố Hồ Chí Minh. Tăng cường liên kết các mạng lưới đổi mới sáng tạo trong và ngoài nước, mạng lưới kết nối nhân tài người Việt Nam. Mở rộng và nâng cao hiệu quả hợp tác quốc tế về khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo. Phát huy hơn nữa vai trò của các quỹ về phát triển khoa học và đổi mới công nghệ trong thúc đẩy nghiên cứu, khởi nghiệp đổi mới sáng tạo, ứng dụng và chuyển giao công nghệ. Duy trì xếp hạng về chỉ số đổi mới sáng tạo toàn cầu (GII) thuộc 3 nước dẫn đầu ASEAN.

Cách mạng công nghiệp lần thứ 4 (4.0) là gì?

Hiện nay, nước ta đang đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa trong điều kiện phát triển kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, hội nhập quốc tế và đón nhận Cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ 4 (4.0). Quá trình này có tác động lớn đến việc làm, quan hệ lao động trong các doanh nghiệp, đời sống của công nhân, lao động, dẫn đến những thay đổi trong lối sống của công nhân, lao động. Do đó, công nhân, lao động phải có nhận thức đúng về tiến trình phát triển của các cuộc cách mạng công nghiệp và ý nghĩ của Cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ 4 đối với việc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc trong thời kỳ mới.

Lịch sử phát triển của thế giới đã trải qua các cuộc cách mạng công nghiệp. Đây là các cuộc cách mạng trong lĩnh vực sản xuất, làm thay đổi cơ bản các điều kiện kinh tế- xã hội, văn hóa, kỹ thuật và đặc biệt là thay đổi căn bản về chất lượng nguồn nhân lực.

Cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ 1 (1.0) bắt đầu từ năm 1784 với việc xuất hiện đầu máy hơi nước và máy chạy bằng thủy lực. Đây là thời kỳ bùng nổ của ngành công nghiệp dệt may, vận tải đường sắt. Lao động chân tay bắt đầu được thay thế bằng máy móc.

Cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ 2 (2.0) bùng nổ khoảng từ năm 1870 từ việc ra đời động cơ điện và dây chuyền sản xuất hàng loạt. Đây là thời kỳ bùng nổ của ngành sản xuất điện, hóa học, sản xuất thép, vận tải… Máy móc bắt đầu thực hiện các công việc nặng nhọc thay thế con người.

Cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ 3 (3.0) bùng nổ từ khoảng năm 1969. Thời kỳ của máy tính và tự động hóa. Phát minh ra linh kiện điện tử, linh kiện điện tử bán dẫn, máy tính và sử dụng công nghệ thông tin để tự động hóa sản xuất. Dịch chuyển từ nền tảng cơ- điện khí hóa sang nền tảng cơ – điện tử - tự động hóa. Phát triển các ngành khoa học và công nghệ mới: Công nghệ thông tin, công nghệ nano, công nghệ vật liệu, công nghệ sinh học, công nghệ năng lượng mới, công nghệ vũ trụ. Do đó, đòi hỏi công nhân có trình độ cao hơn.

Thế kỷ 21 là thế kỷ của Cuộc cách mạng lần thứ 4 (4.0) dựa trên nền tảng tích hợp cao độ của hệ thống kết nối số hóa – vật lý - sinh học với sự đột phá của internet vạn vật và trí tuệ nhân tạo. Robot dần thay thế cho con người, lao động trình độ thấp, lao động giản đơn, ít kỹ năng bị ảnh hưởng.

Nói một cách ngắn gọn, theo các chuyên gia: Cách mạng công nghiệp 4.0 diễn ra trên 3 lĩnh vực chính, gồm: Công nghệ sinh học, Kỹ thuật số và Vật lý. Những yếu tố cốt lõi của kỹ thuật số trong Cách mạng 4.0 sẽ là: Trí tuệ nhân tạo (AL), Vạn vật kết nối – Internet of Things (IoT) và Dữ liệu lớn (Big Data). Trên lĩnh vực sinh học, Cách mạng Công nghiệp 4.0 tập trung vào nghiên cứu để tạo ra những bước nhảy vọt trong nông nghiệp, thủy sản, y dược, chế biến thực phẩm, bảo vệ môi trường, năng lượng tái tạo, hóa học và vật liệu. Cuối cùng là lĩnh vực Vật lý với Robot thế hệ mới, máy in 3D, xe tự lái, các vật liệu mới (graphene, skyrmions…) và công nghệ nano.

Trí tuệ nhân tạo (AL) là trí tuệ nhân tạo của máy móc được tạo ra bởi con người. Trí tuệ này có thể tư duy, suy nghĩ, học hỏi,… như trí tuệ con người. Xử lý dữ liệu ở mức độ rộng lớn hơn, quy mô hơn, hệ thống, khoa học và nhanh hơn so với con người.

Vạn vật kết nối (IoT) được coi là nền tảng của Cuộc cách mạng công nghiệp 4.0. IoT giúp kết nối mọi thứ vào một mạng lưới để con người “giao tiếp” với vạn vật xung quanh. Việc phát triển các hệ thống liên kết thế giới thực và ảo, mạng lưới vạn vật kết nối giúp cho cuộc sống của con người tiện ích, tối ưu sức lao động.

Dữ liệu lớn (Big Data) là một thuật ngữ cho việc xử lý một tập hợp dữ liệu rất lớn và phức tạp mà các ứng dụng xử lý dữ liệu truyền thống không xử lý được. Hiện nay, Grab, Uber, Google, Facebook, Amazon… là các ví dụ tiêu biểu cho việc áp dụng Big Data.

Sự khác biệt cơ bản của Cuộc cách mạng công nghiệp 4.0 so với Cuộc cách mạng lần thứ 3 ở ba yêu tố: Tốc độ, quy mô và tác động hệ thống. Đây là cuộc cách mạng chưa từng có trong lịch sử nhân loại, nó sẽ diễn biến rất nhanh, là sự kết hợp của công nghệ trong các lĩnh vực vật lý, số hóa và sinh học, tạo ra những khả năng hoàn toàn mới và có tác động sâu sắc đối với các hệ thống chính trị, xã hội, kinh tế của thế giới.

Với cuộc cách mạng công nghiệp 4.0, nhờ sự kết hợp mạnh mẽ của Internet, trí tuệ nhân tạo, robot người máy sẽ dần thay thế con người. Các kỹ năng truyền thống của công nhân, lao động từng có vai trò quan trọng trong giai đoạn trước, nay dần bị người máy thay thế.

Cuộc cách mạng lần thứ 4 (4.0) có tác động đối với việc làm và phân cực lực lượng lao động.

Về tác động tích cực: Cuộc cách mạng lần thứ 4 (4.0) sẽ làm tăng năng suất lao động nhờ ứng dụng tiến bộ của khoa học, công nghệ của cuộc cách mạng công nghiệp 4.0, từ đó góp phần tăng thu nhập, nâng cao đời sống người lao động;Điều kiện làm việc, chất lượng cuộc sống của người lao động sẽ được cải thiện nhờ những sản phẩm giải trí và dịch vụ mới của cuộc cách mạng công nghiệp 4.0. Từ đó sẽmở cửa thị trường lao động thông qua việc cắt giảm chi phí đi lại, vận chuyển và tạo ra nhiều việc làm mới.

Về tác động tiêu cực: Cuộc cách mạng lần thứ 4 (4.0) sẽ tác động đến số lượng, chất lượng việc làm thông qua sự thay thế sức lao động bằng máy móc, robot, trí tuệ nhân tạo và ứng dựng công nghệ thông tin đối với một số ngành, nghề đang diễn ra nhanh chóng, thâm nhập nơi làm việc trên thị trường lao động Việt Nam, những lao động giản đơn trong một số ngành, nghề có nguy cơ mất việc làm.Tác động đến chất lượng nguồn nhân lực để đáp ứng yêu cầu cuộc cách mạng công nghiệp 4.0. Việt Nam thiếu một đội ngũ chuyên gia giỏi, với tri thức và công nghệ cao có thể đáp ứng các yêu cầu của cuộc cách mạng công nghiệp 4.0. Với nền tảng công nghệ số, tích hợp tất cả các thông tin về công nghệ, quy trình, phương thức sản xuất, nhu cầu của ngành, nghề, kỹ năng… và nhất là khả năng kết nối, chia sẻ trên toàn thế giới thông qua các thiết bị công nghệ… sẽ làm thay đổi cách thức kết nối giữa cung và cầu trên thị trường lao động.Các nước trong khu vực đã có những chiến lược, chính sách, kế hoạch hành động trong bối cảnh cách mạng công nghiệp 4.0. Nếu Việt Nam không có những bước đi chính xác, cụ thể thì nguy cơ tụt hậu là điều rất dễ xảy ra. Tác động lớn đến công tác phân tích, dự báo thông tin thị trường lao động.

Một số ngành nghề áp dụng CMCN 4.0 và có ảnh hưởng lớn, như:

- Ngành ngân hàng: Với những dịch vụ mới như Internet banking, mobile banking, công nghệ thẻ chip, videocall (gọi từ xa có hình ảnh)… có thể kết nối các thị trường tài chính và chăm sóc khách hàng toàn cầu mà không cần nhiều nhân viên như hiện nay.

- Lĩnh vực thương mại, dịch vụ, giải trí: Trong tương lai robot có thể dọn dẹp, pha chế đồ uống, bưng bê phục vụ, trực lễ tân… sẽ thay thế hàng loạt lao động giản đơn hiện nay.

- Trên lĩnh vực viễn thông: Nhiều tổng đài với nhân viên trả lời thông tin cho khách hàng cũng có thể bị thay thế bằng robot.

- Lĩnh vực giao thông công cộng: Cũng sẽ có nhiều thay đổi khi thế hệ ô tô tự lái phát triển, lúc đó nhiều nhân viên lái xe có nguy cơ thất nghiệp.

- Ngành dệt may, da giày, điện tử, chế biến thủy sản, hải sản: Một lực lượng lớn lao động giản đơn có thể bị thất nghiệp bởi làn sóng tự động hóa, công nghệ hóa trong ngành, khi các tay máy robot, người máy robot sẽ được sử dụng hàng loạt.

- Ngành nông nghiệp: Công nghệ mạng lưới vạn vật kết nối internet, với hàng hoạt đầu đo và hệ thống cảm biến có thể giúp chăm sóc cây trồng, vật nuôi tốt nhất lại sử dụng ít nhân công nhất.

- Với một số ngành cần lực lượng lao động chất lượng cao như y tế, giáo dục… cũng có nguy cơ mất việc làm khi hàng loạt máy móc, thiết bị hiện đại hỗ trợ và robot thông minh có thể giúp người học không cần tương tác trực tiếp với giáo viên, bệnh nhân có thể được chuẩn đoán bệnh, trị bệnh nhờ hệ thống bệnh án điện tử và máy tính xử lý hàng ngàn dữ liệu cho bác sỹ chỉ trong vài giây, thậm chí được phẫu thuật nhờ cánh tay robot, người máy robot.

Người lao động nên làm gì để thích ứng với cuộc cách mạng công nghiệp 4.0

- Học tập nâng cao trình độ học vấn: Phổ cập, nâng cao kiến thức phổ thông, học thêm ngoại ngữ, tin học… giúp người lao động tiếp cận với máy móc công nghệ cao hoặc học thêm nghề mới dễ dàng hơn, tăng cơ hội giữ vững việc làm và tìm kiếm việc làm mới.

- Học tập nâng cao kỹ năng nghề nghiệp để tạo ra sản phẩm nhanh nhất, hiệu quả nhất, tốt đẹp nhất; người lao động có thể điều khiển làm chủ các máy móc có giá trị cạnh tranh thay thế được máy móc thiết bị nhập ngoại; có thể nghiên cứu, ứng dụng robot, cánh tay robot vào sản xuất.

- Học tập nâng cao nhận thức chính trị, kiến thức pháp luật để hiểu rõ hơn đường lối của Đảng, chế độ, chính sách của Nhà nước; ý thức rõ hơn nghĩa vụ, trách nhiệm và quyền lợi của một công dân, của đoàn viên công đoàn, hiểu Công đoàn Việt Nam là tổ chức đại diện, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp, chính đáng của công nhân lao động.

- Học kỹ năng sống: Kỹ năng làm việc nhóm, tác phong lao động công nghiệp; kỹ năng sử dụng thiết bị bảo hộ lao động, kỹ năng giải quyết tranh chấp, xung đột, kỹ năng chăm sóc sức khỏe bản thân, kỹ năng tổ chức cuộc sống gia đình, chăm sóc sức khỏe sinh sản, nuôi dạy con cái, kỹ năng ứng xử văn hóa, giao tiếp…

- Học tại nơi làm việc: Người lao động có thể học hỏi lẫn nhau, người có chuyên môn, tay nghề tốt hơn kèm cặp người có chuyên môn, tay nghề kém hơn.

- Học qua mạng internet, học từ xa: Người lao động có thể học qua mạng internet từ các phần mềm có hình ảnh và âm thanh để giảm thiểu chi phí đi lại, tiết kiệm thời gian, không gian; có thể tương tác với thầy cô và các học viên khác trên không gian mạng.

- Hình thức tự học: Người lao động có thể tự học dựa vào sách, báo, tài liệu, tư liệu, các phương tiện thông tin đại chúng; có thể học tại nhà, tại nơi làm việc hoặc bất kỳ không gian nào, thời điểm nào phù hợp với bản thân.

- Học tại các cơ sở giáo dục: Đây là hình thức học tập cần thiết với người lao động cần có bằng tốt nghiệp hoặc chứng chỉ đào tạo nghề.

- Các hình thức học tập linh hoạt khác theo phương châm “cần gì học nấy”: Người lao động có thể học ngoài giờ, học theo chuyên đề, chủ đề; nghe phổ biến kiến thức, nghe tư vấn; cập nhật thông tin, đọc tài liệu… ngoài giờ lao động sản xuất tại các trung tâm học tập cộng đồng, các trung tâm văn hóa, thể thao, thư viện, bảo tàng…

                                                                                      Quang Tuyến 

VĂN BẢN MỚI
LIÊN KẾT WEB
Thống kê truy cập
Hôm nay: 53
Hôm qua: 5,712
Tuần này: 16,377
Tuần trước: 21,958
Tháng này: 583,079
Tháng trước: 390,098
Tổng lượt truy cập: 4,629,065
Số người online: 47