| Tư vấn pháp luật về Thương lượng tập thể | |
| Ngày đưa: 14/04/2021 02:19:24 PM |
|
![]() Câu 23. Thương lượng tập thể là gì?
Theo Điều 65 BLLĐ 2019: TLTT là việc đàm phán, thỏa thuận giữa một bên là một hoặc nhiều TCĐDNLĐ với một bên là một hoặc nhiều NSDLĐ hoặc tổ chức đại diện NSDLĐ nhằm xác lập điều kiện lao động, quy định về mối quan hệ giữa các bên và xây dựng QHLĐ tiến bộ, hài hòa và ổn định.
BLLĐ 2019 quy định: TCĐDNLĐ tại cơ sở là tổ chức được thành lập nhằm mục đích bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp, chính đáng của NLĐ trong QHLĐ thông qua TLTT hoặc các hình thức khác theo quy định của pháp luật. TCĐDNLĐ tại cơ sở bao gồm CĐCS và tổ chức của người lao động tại doanh nghiệp.
Ngoài ra, khoản 4 Điều 3 BLLĐ 2019 xác định: Tổ chức đại diện người sử dụng lao động là tổ chức được thành lập hợp pháp, đại diện và bảo quyền, lợi ích hợp pháp của NSDLĐ trong QHLĐ.
Như vậy, TLTT theo quy định của BLLĐ 2019 hẹp hơn so với BLLĐ 2012, theo đó, TLTT chỉ có thể diễn ra khi có TCĐDNLĐ tại cơ sở, trong khi BLLĐ 2012 cho phép TLTT diễn ra tại doanh nghiệp chưa thành lập CĐCS.
Câu 24. TLTT tại doanh nghiệp được diễn ra trong trường hợp nào? Ai là người có quyền TLTT tại doanh nghiệp?
TLTT tại doanh nghiệp được diễn khi:
Doanh nghiệp đã thành lập tổ chức CĐCS hoặc tổ chức của NLĐ tại doanh nghiệp.
CĐCS hoặc tổ chức của NLĐ tại doanh nghiệp có quyền yêu cầu TLTT khi đạt tỷ lệ thành viên tối thiểu trên tổng số NLĐ trong doanh nghiệp theo quy định của Chính phủ (trường hợp chỉ có 01 tổ chức CĐCS hoặc tổ chức của NLĐ tại doanh nghiệp) hoặc tổ chức có số thành viên nhiều nhất trong doanh nghiệp (trường hợp doanh nghiệp có nhiều TCĐDNLĐ tại cơ sở đáp ứng tỷ lệ thành viên tối thiểu trên tổng số NLĐ trong doanh nghiệp theo quy định của Chính phủ) hoặc CĐCS kết hợp với tổ chức của NLĐ tại doanh nghiệp để đạt tỷ lệ thành viên tối thiểu trên tổng số NLĐ trong doanh nghiệp theo quy định của Chính phủ (trường hợp doanh nghiệp có nhiều TCĐDNLĐ tại cơ sở mà không có tổ chức nào đáp ứng tỷ lệ tối thiểu).
- CĐCS hoặc tổ chức đại diện NLĐ ở cơ sở hoặc liên minh giữa các tổ chức có quyền yêu cầu TLTT gửi yêu cầu TLTT với NSDLĐ hoặc ngược lại.
Đây là quy định hoàn toàn mới của BLLĐ 2019. Theo đó, ngoài yếu tố phải có TCĐDNLĐ tại cơ sở được thành lập thì tổ chức đó phải có quyền TLTT mới được phép đề nghị TLTT. Quyền yêu cầu TLTT gắn liền với tỷ lệ đoàn viên mà tổ chức đó kết nạp được có đạt tỷ lệ nhất định (theo quy định của Chính phủ) hay không. Và như vậy, quy định này thể hiện quan điểm tổ chức nào có tính đại diện nhất mới có quyền TLTT, để tránh gây khó khăn cho NSDLĐ khi phải TLTT với nhiều TCĐDNLĐ tại cơ sở.
![]() Công nhân KKT Dung Quất trong ca sản xuất
Câu 25. TLTT tại doanh nghiệp là bắt buộc hay không bắt buộc?
Khi có yêu cầu TLTT củaTCĐDNLĐ tại cơ sở có quyền yêu cầu TLTT hoặc yêu cầu của NSDLĐ thì bên nhận được yêu cầu không được từ chối việc thương lượng.
Trong thời hạn 07 ngày làm việc kể từ ngày nhận được yêu cầu và nội dung thương lượng, các bên thỏa thuận về địa điểm, thời gian bắt đầu thương lượng.
NSDLĐ có trách nhiệm bố trí thời gian, địa điểm và các điều kiện cần thiết để tổ chức các phiên họp TLTT.
Thời gian bắt đầu thương lượng không được quá 30 ngày kể từ ngày nhận được yêu cầu TLTT.
Như vậy, TLTT là bắt buộc khi một trong hai bên yêu cầu thương lượng. Nội dung này không có thay đổi so với BLLĐ năm 2012.
Câu 26. Nội dung TLTT tại doanh nghiệp bao gồm những vấn đề gì?
Các bên thương lượng lựa chọn một hoặc một số nội dung sau để tiến hành TLTT:
- Tiền lương, trợ cấp, nâng lương, thưởng, bữa ăn và các chế độ khác.
- Mức lao động và thời giờ làm việc, thời giờ nghỉ ngơi, làm thêm giờ, nghỉ giữa ca.
- Bảo đảm việc làm đối với NLĐ.
- Bảo đảm an toàn, vệ sinh lao động; thực hiện NQLĐ.
- Điều kiện, phương tiện hoạt động của TCĐDNLĐ; mối quan hệ giữa NSDLĐ và TCĐDNLĐ.
- Cơ chế, phương thức phòng ngừa, giải quyết tranh chấp lao động.
- Bảo đảm bình đẳng giới, bảo vệ thai sản, nghỉ hằng năm; phòng, chống bạo lực và quấy rối tình dục tại nơi làm việc.
- Nội dung khác mà một hoặc các bên quan tâm.
Nội dung TLTT không được trái với quy định của pháp luật; khuyến khích có lợi hơn cho NLĐ so với quy định của pháp luật.
Như vậy, so với BLLĐ 2012, quy định tại BLLĐ 2019 mở hơn và bổ sung thêm một số nội dung cốt lõi, quan trọng đối với NLĐ như:
- Bổ sung: bữa ăn ca, các chế độ khác; mức lao động.
- Quy định thêm về điều kiện hoạt động của TCĐDNLĐ tại cơ sở: điều kiện, phương tiện hoạt động của TCĐDNLĐ; mối quan hệ giữa NSDNLĐ và TCĐDNLĐ.
- Bổ sung cơ chế, phương thức phòng ngừa, giải quyết tranh chấp lao động. Đây là nội dung quan trọng, gắn với nội dung giải quyết tranh chấp lao động vì theo quy định của BLLĐ 2019, việc lựa chọn cơ quan giải quyết tranh chấp lao động tập thể thông qua Hội đồng trọng tài hay Tòa án hay lựa chọn hòa giải viên ngay từ ban đầu được trao cho các bên. Vì vậy đây là nội dung hết sức cần thiết và quan trọng trong TLTT; bảo đảm bình đẳng giới, bảo vệ thai sản, nghỉ hằng năm; phòng, chống bạo lực và quấy rối tình dục tại nơi làm việc.
Câu 27. Thành phần tham gia TLTT của các bên tại doanh nghiệp gồm những ai?
- Thành phần: mỗi bên quyết định thành phần của bên mình, có quyền mời tổ chức đại diện cấp trên của mình cử người tham gia là đại diện thương lượng và bên kia không được từ chối.
- Về số lượng: các bên thỏa thuận số lượng cụ thể của mỗi bên.
+ Trường hợp bên NLĐ có nhiều tổ chức đại diện có quyền TLTT tham gia TLTT thì tổ chức đại diện có quyền yêu cầu thương lượng có nhiều thành viên nhất quyết định số lượng đại diện của mỗi tổ chức tham gia thương lượng.
+ Trường hợp bên NLĐ có nhiều tổ chức đại diện tham gia TLTT kết hợp với nhau thì số lượng đại diện của mỗi tổ chức do các tổ chức đó thỏa thuận. Trường hợp không thỏa thuận được thì từng tổ chức xác định số lượng đại diện tham gia tương ứng theo số lượng thành viên của tổ chức mình trên tổng số thành viên của các tổ chức.
Đây là nội dung mới so với BLLĐ 2012. Theo đó, thành viên đại diện TCĐDNLĐ cấp trên được mời tham gia TLTT và trực tiếp tham gia quá trình TLTT giữa 2 bên. Như vậy sẽ giúp nâng cao chất lượng cũng như tính thực chất của TLTT.
Câu 28. Quy trình TLTT tại doanh nghiệp được diễn ra như thế nào?
Quy trình TLTT bao gồm các bước sau:
1. Chuẩn bị thương lượng
Trong thời hạn 07 ngày làm việc kể từ ngày nhận được yêu cầu và nội dung thương lượng, các bên thỏa thuận về địa điểm, thời gian bắt đầu thương lượng. NSDLĐ có trách nhiệm bố trí thời gian, địa điểm và các điều kiện cần thiết để tổ chức các phiên họp TLTT. Thời gian bắt đầu thương lượng không được quá 30 ngày kể từ ngày nhận được yêu cầu TLTT.
2. Tổ chức các phiên TLTT
Thời gian thực hiện các phiên TLTT không được quá 90 ngày kể từ ngày bắt đầu thương lượng, trừ trường hợp các bên có thỏa thuận khác.
Việc TLTT phải được lập biên bản, trong đó ghi rõ nội dung đã được các bên thống nhất, nội dung còn ý kiến khác nhau. Biên bản TLTT phải có chữ ký của đại diện các bên thương lượng và của người ghi biên bản.
3. Đề nghị cung cấp thông tin
Trong quá trình TLTT, nếu có yêu cầu của bên đại diện NLĐ thì trong thời hạn 10 ngày kể từ ngày nhận được yêu cầu, NSDLĐ có trách nhiệm cung cấp thông tin về tình hình hoạt động sản xuất, kinh doanh và nội dung khác liên quan trực tiếp đến nội dung thương lượng trong phạm vi doanh nghiệp nhằm tạo điều kiện thuận lợi cho TLTT, trừ thông tin về bí mật kinh doanh, bí mật công nghệ của NSDLĐ.
4. Tổ chức thảo luận, lấy ý kiến NLĐ
TCĐDNLĐ tại cơ sở có quyền tổ chức thảo luận, lấy ý kiến NLĐ về nội dung, cách thức tiến hành và kết quả của quá trình TLTT.
TCĐDNLĐ tại cơ sở quyết định về thời gian, địa điểm và cách thức tiến hành thảo luận, lấy ý kiến NLĐ nhưng không được làm ảnh hưởng đến hoạt động sản xuất, kinh doanh bình thường của doanh nghiệp.
Doanh nghiệp không được gây khó khăn, cản trở hoặc can thiệp vào quá trình TCĐDNLĐ thảo luận, lấy ý kiến NLĐ.
5. Công bố kết quả TLTT
Kết thúc TLTT, TCĐDNLĐ tại cơ sở công bố rộng rãi, công khai biên bản TLTT đến toàn bộ NLĐ.
Về cơ bản, quy trình TLTT không có nhiều thay đổi so với BLLĐ 2012. Tuy nhiên, để đảm bảo TLTT diễn ra thực chất, thiện chí, hiệu quả, BLLĐ 2019 quy định một số điểm mới như sau:
- Tổ chức lấy ý kiến tập thể NLĐ: trao quyền quyết định cho TCĐDNLĐ tại cơ sở, có thể tổ chức bất cứ lúc nào, bất cứ khi nào miễn không gây ảnh hưởng đến hoạt động sản xuất, kinh doanh của NSDLĐ.
- Mở rộng phạm vi cung cấp thông tin của NSDLĐ: theo đó, nội dung cung cấp thông tin ngoài tình hình sản xuất kinh doanh, còn bao gồm nội dung khác liên quan trực tiếp đến nội dung thương lượng trong phạm vi doanh nghiệp. Đây là điểm mới quan trọng vì thực tế trong quá trình thương lượng, có rất nhiều thông tin phục vụ TLTT ngoài tình hình sản xuất, kinh doanh.
Quy định về thời gian TLTT tối đa: không được quá 90 ngày kể từ ngày bắt đầu thương lượng (có thể hiểu là phiên TLTT đầu tiên diễn ra). Đây là mốc thời gian quan trọng để xác định TLTT không thành, từ đó có thể tiến hành giải quyết tranh chấp lao động tập thể giữa các bên.
Câu 29. TLTT tại doanh nghiệp được xác định là không thành trong những trường hợp nào?
Những trường hợp sau được xác định là TLTT không thành:
- Một bên từ chối thương lượng hoặc không tiến hành thương lượng trong thời hạn 07 ngày làm việc kể từ ngày nhận được yêu cầu và nội dung thương lượng của bên kia hoặc quá 30 ngày kể từ ngày nhận được yêu cầu TLTT của bên kia mà không tổ chức thương lượng.
- Đã hết thời hạn 90 ngày kể từ ngày bắt đầu thương lượng mà các bên không đạt được thỏa thuận.
- Chưa hết thời hạn 90 ngày kể từ ngày bắt đầu thương lượng nhưng các bên cùng xác định và tuyên bố về việc TLTT không đạt được thỏa thuận.
Đây là nội dung hoàn toàn mới và quan trọng của BLLĐ 2019. Theo đó, căn cứ vào những trường hợp này có thể xác định được khi nào TLTT không thành và các bên có quyền tiến hành giải quyết tranh chấp lao động tập thể. | |
|
Bản quyền ©2012 Liên đoàn Lao động tỉnh Quảng Ngãi | |