Đăng lúc: 11/07/2025 03:01:00 PM
 
Dự thảo Báo cáo chính trị trình Đại hội Đảng bộ tỉnh lần thứ I, nhiệm kỳ 2025 - 2030.
Để chuẩn bị tổ chức Đại hội đại biểu Đảng bộ tỉnh lần thứ I, hiện nay Tỉnh ủy đang triển khai lấy ý kiến góp ý dự thảo Báo cáo chính trị trình Đại hội Đảng bộ tỉnh lần thứ I, nhiệm kỳ 2025 - 2030”. Trang Thông tin điện tử Liên đoàn Lao động tỉnh xin đăng tải trích lược một số nội dung của dự thảo Báo cáo.

 

Đại hội đại biểu Đảng bộ tỉnh Quảng Ngãi lần thứ I, nhiệm kỳ 2025 - 2030 diễn ra trong bối cảnh đất nước, tỉnh ta bước vào giai đoạn lịch sử mới, kỷ nguyên vươn mình của dân tộc dưới sự lãnh đạo của Đảng, xây dựng nước Việt Nam hòa bình, độc lập, dân chủ, giàu mạnh, phồn vinh, văn minh, hạnh phúc. Đại hội chúng ta có trách nhiệm: Tổng kết thực hiện Nghị quyết Đại hội Đảng bộ tỉnh nhiệm kỳ 2020 - 2025 và xác định phương hướng, mục tiêu, nhiệm vụ, giải pháp của nhiệm kỳ 2025 - 2030; Thảo luận, đóng góp ý kiến vào dự thảo các văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng. Đại hội đại biểu Đảng bộ tỉnh lần thứ I, nhiệm kỳ 2025 - 2030 được tiến hành theo phương châm: "Đoàn kết - Dân chủ - Kỷ cương - Đột phá - Phát triển".

Phần thứ nhất

KẾT QUẢ THỰC HIỆN NGHỊ QUYẾT

 ĐẠI HỘI ĐẠI BIỂU ĐẢNG BỘ TỈNH NHIỆM KỲ 2020 - 2025

I. NHỮNG KẾT QUẢ ĐẠT ĐƯỢC

1. Về kinh tế - xã hội

1.1. Về kinh tế

Kinh tế tiếp tục phát triển. Tổng sản phẩm trong tỉnh (GRDP) ước đạt 92.042 tỷ đồng, tăng bình quân 7,13%/năm. Tỷ trọng công nghiệp - xây dựng và dịch vụ chiếm 71,8% trong GRDP. Năm 2025, GRDP bình quân đầu người ước đạt 4.085 USD; thu nhập bình quân đầu người ước đạt 54,87 triệu đồng/người/năm, tăng bình quân 9,4%/năm. Năng suất lao động xã hội theo giá so sánh ước đạt 91 triệu đồng/lao động, tăng bình quân 5,9%/năm. Hằng năm, thu ngân sách nhà nước đều vượt mức chỉ tiêu Trung ương giao. Tổng thu ngân sách nhà nước trên địa bàn trong 5 năm ước đạt 170.204 tỷ đồng. Tổng vốn đầu tư toàn xã hội 5 năm theo giá hiện hành ước đạt khoảng 332.849 tỷ đồng.

1.1.1. Về công nghiệp

Công nghiệp phát triển mạnh, đóng góp lớn vào phát triển kinh tế của tỉnh. Giá trị sản xuất công nghiệp năm 2025 ước đạt 191.631 tỷ đồng, tăng bình quân 11,45%/năm. 

Khu kinh tế Dung Quất, Khu kinh tế Cửa khẩu quốc tế Bờ Y và các khu công nghiệp, cụm công nghiệp được quan tâm đầu tư và thu hút đầu tư. Chủ trương xây dựng Trung tâm lọc hóa dầu và năng lượng quốc gia tại Khu kinh tế Dung Quất được tích cực thực hiện. Quan tâm, tạo điều kiện hỗ trợ các nhà đầu tư đẩy nhanh tiến độ thực hiện các dự án có quy mô lớn, tác động lan tỏa, thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh như: Dự án Nâng cấp mở rộng Nhà máy lọc dầu Dung Quất; Khu liên hợp sản xuất gang thép Hòa Phát Dung Quất 2 và các dự án Nhà máy điện tuabin khí hỗn hợp Dung Quất I, Dung Quất II, Dung Quất III, cùng với việc triển khai các dự án năng lượng góp phần đảm bảo an ninh năng lượng.

1.1.2. Về nông nghiệp, lâm nghiệp và thủy sản

Giá trị sản xuất nông nghiệp, lâm nghiệp và thuỷ sản (theo giá so sánh năm 2010) năm 2025 ước đạt 30.807 tỷ đồng, bình quân giai đoạn 2021 - 2025 tăng 4,4%/năm. 

Phát triển sản phẩm OCOP ngày càng đi vào chiều sâu, nhiều sản phẩm có chất lượng, đáp ứng nhu cầu ngày càng cao của người tiêu dùng và hướng tới xuất khẩu. 

Công tác quản lý, phát triển và bảo vệ rừng được quan tâm, tỷ lệ che phủ rừng của tỉnh đạt 59,45%. Đã tập trung phát triển dược liệu dưới tán rừng, trong đó hơn 4.000 ha rừng có trồng Sâm Ngọc Linh.

Công tác quản lý khai thác, bảo quản và nuôi trồng thủy sản được chú trọng theo hướng phát triển bền vững; hầu hết các cấp, các ngành, địa phương và người dân đã nâng cao nhận thức, trách nhiệm và tích cực hưởng ứng trong việc chống khai thác hải sản bất hợp pháp, không báo cáo và không theo quy định (IUU).

1.1.3. Về dịch vụ, du lịch

Giá trị sản xuất khu vực dịch vụ (theo giá so sánh năm 2010) năm 2025 ước đạt 49.307 tỷ đồng, tăng bình quân 5,99%/năm. Tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng năm 2025 ước đạt 126.305 tỷ đồng, tăng bình quân 10,6%/năm. Kim ngạch xuất khẩu năm 2025 ước đạt 3.653 triệu USD, tăng bình quân 16,6%/năm, tăng hơn 02 lần so với năm 2020.

Thương mại nội địa phát triển mạnh, hệ thống siêu thị được đầu tư mở rộng. Lưu thông hàng hóa được duy trì, bảo đảm cân đối cung cầu, ổn định thị trường, không để gián đoạn nguồn hàng tại các vùng sâu, vùng xa, vùng đồng bào dân tộc thiểu số. 

Du lịch có bước phát triển. Nhiều hoạt động liên kết, xúc tiến, hợp tác, quảng bá du lịch được triển khai thực hiện. Năm 2025, tổng lượng khách ước đạt khoảng 4,9 triệu lượt khách; tổng doanh thu du lịch ước đạt 2.640 tỷ đồng.

1.1.4. Về phát triển hạ tầng

Cơ sở hạ tầng phục vụ phát triển kinh tế - xã hội tại các vùng được quan tâm đầu tư. Hệ thống kết cấu hạ tầng giao thông tiếp tục được ưu tiên đầu tư, nhất là các công trình hạ tầng giao thông quan trọng, có tính kết nối liên vùng, đáp ứng nhu cầu vận chuyển hàng hóa và đi lại của người dân. Hạ tầng thủy lợi, đê điều được đầu tư, nâng cấp, cơ bản đáp ứng yêu cầu phục vụ sản xuất. Hạ tầng cung cấp điện, công nghệ thông tin và truyền thông, các khu công nghiệp, cụm công nghiệp, thương mại, giáo dục, y tế, văn hóa, du lịch, khoa học, công nghệ được quan tâm đầu tư phù hợp với yêu cầu phát triển của các ngành, lĩnh vực.

1.1.5. Về phát triển các vùng, phát triển đô thị và xây dựng nông thôn mới

Hoàn thành việc lập và trình cấp có thẩm quyền phê duyệt Quy hoạch tỉnh, Kế hoạch thực hiện Quy hoạch tỉnh thời kỳ 2021 - 2030, tầm nhìn đến năm 2050; điều chỉnh tổng thể Quy hoạch chung xây dựng Khu kinh tế Dung Quất, tỉnh Quảng Ngãi đến năm 2045, Quy hoạch Khu kinh tế Cửa khẩu quốc tế Bờ Y, Quy hoạch chung xây dựng Khu du lịch Măng Đen đến năm 2045.

Công tác xây dựng nông thôn mới được tích cực thực hiện; triển khai sâu rộng, hiệu quả xây dựng thôn (làng) nông thôn mới vùng đồng bào dân tộc thiểu số. Đến cuối năm 2025, tỷ lệ đô thị hóa đạt 35,62%. Tỷ lệ hộ dân cư đô thị dùng nước sạch ước đạt 92,5%. 

1.1.6. Về cải thiện môi trường đầu tư; huy động và sử dụng hiệu quả các nguồn lực cho đầu tư phát triển

Từ nguồn vốn đầu tư công giai đoạn 2021 - 2025, tỉnh đã và đang triển khai theo đúng các mục tiêu, định hướng phát triển của tỉnh; đã tập trung đầu tư khoảng 415 công trình, dự án; dự kiến đến cuối năm 2025 sẽ hoàn thành 348 dự án, tạo tác động lan tỏa cho phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh trong thời gian đến.

Giai đoạn 2021 - 2025, đã cấp chủ trương cho 188 dự án từ nguồn vốn đầu tư trong nước với tổng vốn đăng ký khoảng 121.956 tỷ đồng, tổng vốn thực hiện ước đạt 110.048 tỷ đồng; cấp giấy chứng nhận đầu tư, chủ trương đầu tư cho 23 dự án FDI với tổng vốn đăng ký khoảng 770 triệu USD, tổng vốn thực hiện ước đạt 483 triệu USD.

1.2. Về văn hóa, xã hội

1.2.1. Về giữ gìn, phát huy bản sắc văn hóa; xây dựng con người; phát triển sự nghiệp thể dục, thể thao

Việc xây dựng môi trường văn hóa được chú trọng. Các thiết chế văn hóa ở cơ sở được quan tâm đầu tư, phát huy giá trị. Chất lượng, hiệu quả hoạt động văn hoá từng bước được nâng cao. Đời sống văn hoá của Nhân dân không ngừng được cải thiện. Các di sản văn hóa vật thể, phi vật thể được quan tâm bảo tồn và phát huy, nhất là các giá trị văn hóa đặc sắc của đồng bào các dân tộc thiểu số, tạo nên không gian văn hóa đa dạng, độc đáo và giàu bản sắc. Các hủ tục, phong tục không còn phù hợp cơ bản được xóa bỏ. Vai trò của văn học, nghệ thuật được coi trọng, phát huy hơn. Hoạt động thể dục, thể thao quần chúng, giáo dục thể chất, thể thao trường học, thể thao chuyên nghiệp luôn được coi trọng. 

1.2.2. Về giáo dục và đào tạo; nâng cao chất lượng nguồn nhân lực

Đã hoàn thành phổ cập giáo dục mầm non cho trẻ em 5 tuổi; duy trì vững chắc, từng bước nâng cao chất lượng phổ cập giáo dục tiểu học và trung học cơ sở. Đội ngũ nhà giáo và cán bộ quản lý giáo dục cơ bản được chuẩn hoá, từng bước bảo đảm số lượng. Đã tích cực triển khai các nghị quyết, đề án, chính sách của tỉnh về phát triển nguồn nhân lực đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ. Chất lượng đào tạo và năng lực nghiên cứu khoa học của Trường Đại học Phạm Văn Đồng và các trường cao đẳng của tỉnh từng bước được nâng lên. Công tác đào tạo, bồi dưỡng của Trường Chính trị tỉnh và trung tâm chính trị tại các địa phương ngày càng được quan tâm, thực hiện các tiêu chí về trường chuẩn. Tỷ lệ lao động qua đào tạo đạt khoảng 63,96%.

1.2.3. Về khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo; thông tin, truyền thông và báo chí; chuyển đổi số

Công tác quản lý nhà nước về khoa học và công nghệ được tăng cường, đạt kết quả bước đầu. Hoạt động khởi nghiệp, đổi mới sáng tạo đạt được kết quả tích cực.

Chất lượng, hiệu quả hoạt động của các cơ quan báo chí tiếp tục được nâng lên, kịp thời thông tin trung thực, toàn diện đời sống chính trị, kinh tế - xã hội trên địa bàn. Cơ hội tiếp cận thông tin của Nhân dân, đặc biệt là ở vùng sâu, vùng xa, vùng đồng bào dân tộc thiểu số được bảo đảm. Công tác quản lý các loại hình thông tin trên Internet được tăng cường.

Công tác xây dựng chính sách về chuyển đổi số được quan tâm. Đề án phát triển ứng dụng dữ liệu về dân cư, định danh và xác thực điện tử phục vụ chuyển đổi số quốc gia giai đoạn 2022 - 2025, tầm nhìn đến năm 2030 được triển khai thực hiện mạnh mẽ. Chuyển đổi số trong hoạt động của các cơ quan Đảng, Nhà nước, Mặt trận Tổ quốc và các tổ chức chính trị - xã hội được đẩy mạnh. Hạ tầng số, nền tảng số, dữ liệu số được quan tâm đầu tư phát triển; kinh tế số, xã hội số từng bước phát triển. Tỷ trọng kinh tế số trong GRDP hằng năm được nâng lên. An toàn an ninh mạng được chú trọng.

1.2.4. Về y tế

­Công tác chăm sóc sức khỏe Nhân dân được quan tâm. Cơ sở vật chất được đầu tư; đào tạo nguồn nhân lực y tế được chú trọng. Năng lực và chất lượng khám, chữa bệnh được nâng lên. Phát triển y tế ngoài công lập chất lượng cao đạt kết quả bước đầu. Đội ngũ thầy thuốc và cán bộ, nhân viên y tế phát triển cả về số lượng và chất lượng. Công tác dân số, chăm sóc sức khỏe bà mẹ, trẻ em, giảm tỷ lệ trẻ em suy dinh dưỡng được thực hiện tốt hơn. Y tế dự phòng được tăng cường. Công tác phòng, chống dịch Covid-19 được thực hiện kịp thời, quyết liệt, đồng bộ, góp phần vừa phòng chống hiệu quả dịch bệnh, vừa phục hồi, phát triển kinh tế - xã hội. Ước đến hết năm 2025, có 100% đơn vị hành chính cấp xã đạt chuẩn quốc gia về y tế; có 9,66 bác sĩ và 34,19 giường bệnh trên 01 vạn dân; tỷ lệ người dân tham gia đóng bảo hiểm y tế đạt 95,17% dân số.

1.2.5. Về thực hiện các chính sách xã hội, bảo đảm an sinh xã hội; giảm nghèo bền vững

Công tác đền ơn đáp nghĩa, chăm lo cho các đối tượng người có công được chú trọng. Các chế độ chính sách, an sinh xã hội được triển khai thực hiện đầy đủ, kịp thời. Đã rà soát, điều chỉnh, bổ sung, ban hành nhiều chính sách đối với người có công, trong đó có một số chính sách đặc thù của tỉnh. Đã hỗ trợ sửa chữa, xây mới nhà ở cho người có công, góp phần cải thiện, nâng cao đời sống của người có công. Hoàn thành Chương trình xóa nhà tạm, nhà dột nát trên địa bàn tỉnh theo chỉ đạo của Trung ương. Đối tượng thụ hưởng chính sách bảo trợ xã hội ngày càng mở rộng, mức trợ cấp được nâng lên.

Nhiều chính sách được triển khai để đảm bảo giải quyết việc làm cho người lao động, số người có việc làm tăng lên. Ước đến năm 2025, tỷ lệ lao động nông nghiệp trong tổng lao động xã hội còn khoảng 41,29%, tỷ lệ thất nghiệp ở khu vực thành thị khoảng 1,78%.

Công tác giảm nghèo được triển khai thực hiện đồng bộ, quyết liệt, nhất là ở vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi. Dự kiến đến hết năm 2025, tỷ lệ hộ đồng bào dân tộc thiểu số có đất ở, đất sản xuất đạt 98,86%; tỷ lệ hộ nghèo giảm bình quân 2,17%/năm; trong đó miền núi giảm bình quân 4,64%/năm.

1.3. Về quản lý, sử dụng hiệu quả đất đai, tài nguyên; bảo vệ môi trường; chủ động ứng phó với thiên tai và thích ứng với biến đổi khí hậu

Quản lý nhà nước về khai thác tài nguyên, khoáng sản được tăng cường. Khai thác có hiệu quả nguồn tài nguyên thiên nhiên gắn với bảo vệ môi trường. Nâng cao trách nhiệm của các địa phương; trao quyền mạnh mẽ hơn cho các địa phương trong việc quản lý, sử dụng tài nguyên nhằm thúc đẩy ngành khai thác tài nguyên phát triển bền vững. Việc thu hồi đất, giao đất, cho thuê đất, chuyển mục đích sử dụng đất được thực hiện công khai theo đúng quy định. Các quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất, đăng ký đất đai được thực hiện kịp thời.

Công tác bảo vệ môi trường được quan tâm thực hiện. Khuyến khích cơ sở sản xuất sử dụng công nghệ sạch, ít tiêu hao nhiên liệu góp phần giảm phát thải ra môi trường. Mạng lưới quan trắc môi trường của tỉnh được đầu tư bài bản. Chất lượng nước thải tại các khu, cụm công nghiệp, khu chế xuất, bệnh viện và cơ sở sản xuất có phát sinh nguồn thải lớn đều được kiểm soát. 

2. Về công tác nội chính, quốc phòng, an ninh, đối ngoại

2.1. Về công tác nội chính, quốc phòng, an ninh

Đẩy mạnh thực hiện nhiệm vụ cải cách tư pháp. Công tác thanh tra đã có nhiều chuyển biến tương đối toàn diện, ngày càng hiệu quả. Công tác tiếp công dân, giải quyết khiếu nại, tố cáo, kiến nghị, phản ánh được thực hiện nghiêm túc, chặt chẽ, đúng quy định. Hoạt động điều tra, truy tố, xét xử, thi hành án và bổ trợ tư pháp thực hiện đúng quy định.

Quốc phòng, an ninh được tăng cường; duy trì nghiêm chế độ sẵn sàng chiến đấu ở các cấp. Khu vực phòng thủ tỉnh được xây dựng ngày càng vững chắc. Tổ chức diễn tập khu vực phòng thủ các cấp đúng kế hoạch, đạt chất lượng. Hằng năm, thực hiện đạt 100% chỉ tiêu giao quân; chất lượng được nâng lên. Tăng cường thế trận quốc phòng toàn dân, xây dựng nền biên phòng toàn dân vững mạnh. Thực hiện tốt nhiệm vụ quản lý, bảo vệ chủ quyền, an ninh biên giới. Xây dựng, huấn luyện và bảo đảm hoạt động của Hải đội Dân quân thường trực. Huy động nhân lực, tàu thuyền và phương tiện dân sự tham gia bảo vệ chủ quyền, quyền chủ quyền các vùng biển nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Chủ quyền lãnh thổ được giữ vững, đường biên, mốc quốc giới nguyên trạng.

Triển khai thực hiện có hiệu quả các biện pháp bảo vệ an ninh quốc gia. An ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội được giữ vững ổn định. Chủ động nắm, dự báo tình hình, xử lý, giải quyết ổn định các vụ tranh chấp, khiếu kiện phức tạp, không để hình thành điểm nóng. Công tác phòng, chống tội phạm đạt kết quả tích cực, các loại tội phạm và vi phạm pháp luật được đấu tranh, xử lý kịp thời, tội phạm về trật tự xã hội được kéo giảm qua từng năm. Phong trào toàn dân bảo vệ an ninh Tổ quốc được triển khai thực hiện đạt hiệu quả thiết thực. Công tác phòng cháy, chữa cháy và cứu nạn, cứu hộ được quan tâm thường xuyên. Triển khai quyết liệt các giải pháp bảo đảm trật tự, an toàn giao thông; kiềm chế số vụ tai nạn giao thông.

2.2. Về công tác đối ngoại

Quan hệ hợp tác với các tỉnh giáp biên của Lào, Campuchia tiếp tục được tăng cường; đã xúc tiến thiết lập và đẩy mạnh quan hệ hữu nghị hợp tác với các đối tác, địa phương của Hàn Quốc, Cu-ba, Nhật Bản, Pháp, Ấn Độ, Trung Quốc,... Công tác phân giới, cắm mốc tuyến biên giới với Campuchia, tăng dày mốc quốc giới với Lào được triển khai cơ bản đảm bảo tiến độ. Chủ động, tích cực tham gia các sự kiện đối ngoại quan trọng, hoạt động ngoại giao kinh tế, ngoại giao văn hóa và đối ngoại Nhân dân, góp phần quảng bá hình ảnh của địa phương và tăng cường xúc tiến thương mại, đầu tư. Công tác vận động viện trợ và quản lý hoạt động của các tổ chức phi chính phủ nước ngoài được tăng cường. 

3. Về công tác xây dựng Đảng và hệ thống chính trị

3.1. Xây dựng Đảng về chính trị, tư tưởng và đạo đức

Tỉnh ủy, Ban Thường vụ Tỉnh ủy đã tập trung chỉ đạo đổi mới, nâng cao chất lượng nghiên cứu, học tập, quán triệt, tuyên truyền và nâng cao năng lực tổ chức thực hiện các chủ trương, đường lối của Đảng, phù hợp với tình hình thực tiễn của tỉnh. Thường xuyên lãnh đạo, chỉ đạo việc nâng cao nhận thức, trình độ chính trị cho đội ngũ cán bộ, đảng viên; tích cực đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch; kịp thời nắm bắt, định hướng, giải quyết các vấn đề tư tưởng trong cán bộ, đảng viên và Nhân dân, tạo sự thống nhất trong Đảng, sự đồng thuận trong xã hội.

Tập trung lãnh đạo đẩy mạnh xây dựng, chỉnh đốn Đảng và hệ thống chính trị, kiên quyết ngăn chặn, đẩy lùi, xử lý nghiêm cán bộ, đảng viên suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”. 

3.2. Về đổi mới, hoàn thiện tổ chức bộ máy và nâng cao hiệu quả hoạt động của hệ thống chính trị

Đã tổ chức thực hiện quyết liệt, toàn diện, đồng bộ các chủ trương, quyết sách của Trung ương về sắp xếp tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị theo hướng tinh, gọn, mạnh, hiệu năng, hiệu lực, hiệu quả. Kịp thời ban hành nghị quyết, đề án, phương án để giải thể, sáp nhập, thành lập mới các cơ quan, đơn vị, sắp xếp đơn vị hành chính cấp tỉnh, cấp xã, thực hiện mô hình chính quyền địa phương 02 cấp. Giải quyết kịp thời chính sách đối với cán bộ, công chức, viên chức để thực hiện tốt chính sách tinh giản biên chế do sắp xếp tổ chức bộ máy. Rà soát, bổ sung, ban hành mới các quy định về chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của các cơ quan, đơn vị; quản lý chặt chẽ, thống nhất biên chế của hệ thống chính trị; đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức từng bước được cơ cấu, chuẩn hóa.

3.3. Về củng cố, xây dựng tổ chức cơ sở đảng và nâng cao chất lượng đội ngũ đảng viên

Đã kịp thời cụ thể hóa các chủ trương của Trung ương về nâng cao năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu của tổ chức cơ sở đảng và chất lượng đội ngũ đảng viên với những nhiệm vụ, giải pháp phù hợp tình hình thực tế của tỉnh. Triển khai nhiều đề án, phát động nhiều phong trào, mô hình mới như: Mô hình “Dân tin - Đảng cử”; ứng dụng phần mềm Sổ tay đảng viên điện tử; phân công cấp ủy tham gia sinh hoạt ở các tổ chức cơ sở đảng; phân công đảng viên ở cơ sở phụ trách hộ, nhóm hộ gia đình; tổ chức Giải Báo chí về xây dựng Đảng (Giải Búa liềm vàng) của tỉnh; phong trào thi đua xây dựng “chi bộ bốn tốt”, “đảng bộ cơ sở bốn tốt”. Tập trung củng cố, xây dựng và phát triển tổ chức cơ sở đảng, đẩy mạnh phát triển đảng viên về số lượng và chất lượng (đã kết nạp được 13.658 đảng viên, nâng tỷ lệ đảng viên so với dân số trong toàn tỉnh lên 4,86%). 

3.4. Về xây dựng đội ngũ cán bộ và công tác bảo vệ chính trị nội bộ

Công tác xây dựng đội ngũ cán bộ được coi trọng. Công tác bố trí, sử dụng, bổ nhiệm cán bộ và giới thiệu cán bộ ứng cử được thực hiện bảo đảm nguyên tắc, tiêu chuẩn, quy định. Công tác điều động, luân chuyển cán bộ được thực hiện đồng bộ, hiệu quả, từng bước khắc phục tư tưởng cục bộ, khép kín, trì trệ, quan liêu.

Đã chú trọng thực hiện chính sách thu hút, tạo nguồn cán bộ từ sinh viên tốt nghiệp xuất sắc, cán bộ khoa học trẻ. Ban hành Quy định về thực hiện chủ trương khuyến khích và bảo vệ cán bộ năng động, sáng tạo vì lợi ích chung; Quy định trách nhiệm và xử lý trách nhiệm đối với người đứng đầu và cấp phó của người đứng đầu cấp ủy, cơ quan, đơn vị trong việc thực hiện chức trách, nhiệm vụ được giao. Chủ trương về tạo nguồn và phát triển cán bộ nữ, cán bộ trẻ, cán bộ người dân tộc thiểu số được quan tâm thực hiện.

Đã thực hiện chủ trương của Trung ương về miễn nhiệm, từ chức đối với cán bộ, bố trí cán bộ sau khi bị kỷ luật. Kịp thời thay thế cán bộ bị kỷ luật, năng lực hạn chế, uy tín giảm sút, mất đoàn kết nội bộ, bố trí công tác phù hợp đối với cán bộ sau khi bị kỷ luật.

Tập trung đầu tư mới và kết hợp sử dụng trang thiết bị, nhân lực, phương tiện làm việc hiện có phục vụ tốt hơn yêu cầu khám, điều trị, chăm sóc sức khoẻ ban đầu, thực hiện điều trị ngoại trú cho cán bộ.

3.5. Về công tác kiểm tra, giám sát và kỷ luật Đảng

Kịp thời quán triệt, triển khai các quy định của Trung ương và rà soát, sửa đổi, bổ sung, ban hành mới nhiều văn bản quan trọng về công tác kiểm tra, giám sát và kỷ luật Đảng bảo đảm đồng bộ, hiệu quả và phù hợp thực tiễn, tạo sự thống nhất trong tổ chức thực hiện từ tỉnh đến cơ sở. Công tác phối hợp giữa kiểm tra, giám sát của Đảng với thanh tra, kiểm toán của Nhà nước, giám sát của hội đồng nhân dân, Mặt trận Tổ quốc và các tổ chức chính trị - xã hội ngày càng chặt chẽ, đồng bộ, hiệu quả.

3.6. Về công tác dân vận

Đã lãnh đạo thực hiện tốt công tác dân vận của hệ thống chính trị; dân chủ ở cơ sở được mở rộng, phát huy quyền làm chủ của Nhân dân; quyền và lợi ích chính đáng của Nhân dân được bảo vệ; mọi chủ trương, chính sách đều xuất phát từ nguyện vọng, quyền và lợi ích chính đáng của Nhân dân. Phong trào thi đua “Dân vận khéo” đã trở thành hoạt động thường xuyên, ngày càng lan tỏa sâu rộng. Luôn quan tâm tạo điều kiện cho các tôn giáo, đồng bào các dân tộc thực hiện quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo. Tiếp tục phát huy trách nhiệm của người đứng đầu cấp ủy, cơ quan hành chính nhà nước trong việc tiếp dân, đối thoại trực tiếp với người dân, tổ chức, doanh nghiệp.

Mặt trận Tổ quốc và các tổ chức chính trị - xã hội đã có nhiều đổi mới về phương thức hoạt động, nâng cao chất lượng giám sát, phản biện xã hội; làm tốt công tác vận động, tập hợp các tầng lớp nhân dân, nắm bắt kịp thời tâm tư, nguyện vọng hợp pháp, chính đáng của các tầng lớp nhân dân.

3.7. Về đổi mới phương thức lãnh đạo của cấp ủy

Tỉnh ủy đã cụ thể hóa, thực hiện tốt Nghị quyết Hội nghị lần thứ sáu Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIII về tiếp tục đổi mới phương thức lãnh đạo, cầm quyền của Đảng đối với hệ thống chính trị trong giai đoạn mới. Việc ban hành các văn bản lãnh đạo, chỉ đạo, cụ thể hóa các chủ trương của Trung ương bảo đảm ngắn gọn, chất lượng, có trọng tâm, trọng điểm, sát thực tiễn. Các cơ quan trong hệ thống chính trị tập trung cụ thể hóa để triển khai thực hiện. Tiếp tục đổi mới phương pháp, phong cách, lề lối làm việc của cấp ủy; đẩy mạnh phân cấp, phân quyền. Công tác kiểm tra, giám sát, kỷ luật đảng được tăng cường, gắn kết chặt chẽ với tự phê bình, phê bình và với tuân thủ pháp luật. Phát huy vai trò, trách nhiệm nêu gương của cấp ủy, người đứng đầu cấp ủy, cán bộ, đảng viên. Ban Thường vụ Tỉnh ủy và cấp ủy viên phụ trách địa bàn, lĩnh vực thường xuyên đi cơ sở, tổ chức làm việc với cơ sở, nắm tình hình, kiểm tra, giám sát để đôn đốc, tháo gỡ, xử lý những khó khăn, bất cập. Công tác cải cách hành chính, ứng dụng công nghệ thông tin, chuyển đổi số trong hoạt động của các cơ quan đảng được tăng cường; đã triển khai ứng dụng Hệ thống phòng họp không giấy (e-Cabinet), Nền tảng Quản trị tổng thể.

3.8. Hiệu lực, hiệu quả hoạt động của Đoàn Đại biểu Quốc hội tỉnh và các cấp chính quyền được nâng lên

Đoàn Đại biểu Quốc hội tiếp tục nâng cao chất lượng hoạt động, tích cực tham gia các hoạt động của Quốc hội. Hội đồng nhân dân các cấp đã thực hiện tốt vai trò cơ quan quyền lực nhà nước ở địa phương, có nhiều đổi mới, nâng cao chất lượng hoạt động, nhất là trong việc tổ chức các kỳ họp, giám sát, chất vấn, trả lời chất vấn và ban hành các nghị quyết. Chất lượng hoạt động của đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp có nhiều chuyển biến tích cực.

Ủy ban nhân dân các cấp đã tập trung nâng cao năng lực chỉ đạo, quản lý, điều hành, thực hiện đồng bộ các nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội, đảm bảo quốc phòng, an ninh, tăng cường đối ngoại. Quan tâm tháo gỡ khó khăn, vướng mắc trong sản xuất, kinh doanh, thúc đẩy phát triển kinh tế. Hoàn thành các đề án về sắp xếp các đơn vị hành chính cấp tỉnh, cấp xã. 

3.9. Công tác đấu tranh phòng, chống tham nhũng, lãng phí, tiêu cực

Công tác phòng, chống tham nhũng, lãng phí, tiêu cực được lãnh đạo, chỉ đạo thực hiện quyết liệt theo đúng chỉ đạo của Trung ương; Ban Chỉ đạo phòng, chống tham nhũng, lãng phí, tiêu cực tỉnh được thành lập kịp thời, hoạt động hiệu quả. Vai trò, trách nhiệm, nhất là của người đứng đầu được nâng lên. Các giải pháp phòng ngừa tham nhũng, lãng phí, tiêu cực được triển khai thường xuyên, liên tục. Thực hiện tốt việc kiểm soát quyền lực, việc kê khai, công khai, minh bạch tài sản, thu nhập cán bộ, công chức. Tăng cường thanh tra, kiểm tra, giám sát đối với những lĩnh vực dễ phát sinh tham nhũng, lãng phí, tiêu cực và các vấn đề nổi cộm, bức xúc trong xã hội. 

II. HẠN CHẾ, KHUYẾT ĐIỂM VÀ NGUYÊN NHÂN

1. Hạn chế, khuyết điểm

1.1. Về phát triển kinh tế - xã hội

Tăng trưởng kinh tế chưa đạt mục tiêu đề ra. Sản phẩm công nghiệp chế tạo, sản phẩm công nghiệp có hàm lượng khoa học, công nghệ cao còn hạn chế. Công nghiệp hỗ trợ chậm phát triển. Tiến độ thực hiện đầu tư hạ tầng khu kinh tế, khu công nghiệp chậm, chưa đáp ứng yêu cầu phát triển.

Nông nghiệp phát triển thiếu bền vững, còn manh mún, nhỏ lẻ, giá trị gia tăng thấp; liên kết theo chuỗi giá trị gắn với bảo quản, chế biến và tiêu thụ còn hạn chế. Nuôi trồng thủy sản phát triển chưa tương xứng với tiềm năng và lợi thế. Chất lượng, hiệu quả hoạt động của các mô hình kinh tế tập thể, hợp tác xã chưa cao. Thu hút đầu tư phát triển nông nghiệp gặp nhiều khó khăn.

Các ngành dịch vụ có giá trị gia tăng cao, dịch vụ logistics phát triển chậm. Du lịch chưa có sự chuyển biến rõ nét; sản phẩm du lịch chưa tạo được thương hiệu riêng, sức cạnh tranh thấp; hạ tầng các khu, điểm du lịch còn hạn chế; chưa xây dựng, kết nối các tuyến, điểm du lịch.

Thu hút nguồn vốn ngoài nhà nước đầu tư phát triển kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội chưa nhiều; thị trường bất động sản chậm phát triển, nguồn thu từ tiền sử dụng đất hạn chế. Hạ tầng giao thông, đô thị, thương mại, dịch vụ, nông nghiệp chưa đồng bộ; hạ tầng chuyển đổi số chưa được quan tâm đầu tư đúng mức. Kêu gọi đầu tư trên các lĩnh vực y tế, giáo dục, môi trường, thể thao còn hạn chế. Chưa thu hút được nhiều dự án đầu tư phát triển nhà ở xã hội.

Thực hiện liên kết vùng chưa có nhiều chuyển biến. Triển khai thực hiện các chương trình mục tiêu quốc gia có nơi hiệu quả chưa cao.

Vướng mắc trong thực hiện chính sách đất đai, đầu tư, quy hoạch chưa được tháo gỡ kịp thời. Quản lý đất đai ở một số địa phương chưa chặt chẽ. Tình trạng khai thác trái phép một số loại khoáng sản vẫn còn diễn ra.

Phát triển văn hóa chưa đồng bộ. Nhiều thiết chế văn hóa xuống cấp chậm được sửa chữa. Việc bảo tồn, phát huy các giá trị văn hóa hiệu quả chưa cao. Còn khoảng cách hưởng thụ văn hóa giữa các vùng miền trong tỉnh. Chất lượng giáo dục, phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao có mặt còn hạn chế.

Khoa học, công nghệ chưa thật sự trở thành động lực để đổi mới mô hình tăng trưởng, phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh. Thiết chế, cơ sở vật chất, nhân lực khoa học, công nghệ còn thiếu. Thực hiện chuyển đổi số, dịch vụ công trực tuyến còn gặp nhiều khó khăn.

Chất lượng khám, chữa bệnh có mặt chưa đáp ứng nhu cầu ngày càng cao của Nhân dân. Nhân lực chất lượng cao của ngành y tế vẫn còn thiếu, nhất là tại tuyến cơ sở. Vi phạm an toàn vệ sinh thực phẩm có xu hướng tăng.

Giải quyết việc làm cho người lao động gặp nhiều khó khăn; đưa người lao động đi làm việc ở nước ngoài còn hạn chế. Thu nhập và đời sống dân cư nông thôn, nhất là vùng sâu, vùng xa, vùng miền núi còn thấp. Công tác giảm nghèo ở miền núi chưa thật sự bền vững; tỷ lệ hộ nghèo, cận nghèo còn cao.

1.2. Về công tác nội chính, quốc phòng, an ninh, đối ngoại

Năng lực giám định tư pháp có mặt còn hạn chế. Tình hình an ninh trật tự tại một số địa bàn còn tiềm ẩn những yếu tố có thể gây mất ổn định. Công tác nắm tình hình có lúc chưa kịp thời, chưa toàn diện. Tội phạm ma túy, tội phạm sử dụng công nghệ cao còn diễn biến phức tạp. Tuyên truyền, vận động Nhân dân tham gia đấu tranh, tố giác tội phạm ở một số nơi chưa đạt hiệu quả. Công tác đối ngoại và hội nhập quốc tế có mặt chưa đáp ứng yêu cầu. Việc thực hiện các biện pháp để “gỡ” thẻ vàng IUU đạt hiệu quả chưa cao.

1.3. Về xây dựng Đảng và hệ thống chính trị

Việc nắm bắt tình hình tư tưởng, định hướng dư luận xã hội và giải quyết một số vấn đề bức xúc, nổi cộm có lúc còn bị động, chưa kịp thời. Đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch có mặt còn hạn chế. Quy hoạch cán bộ lãnh đạo, quản lý một số nơi chưa bảo đảm phương châm “động” và “mở”. Tỷ lệ cán bộ lãnh đạo, quản lý là nữ, trẻ tuổi, người dân tộc thiểu số còn thấp. Chất lượng một số cuộc kiểm tra, giám sát còn thấp. Một số cán bộ, đảng viên vi phạm pháp luật bị xử lý hình sự hoặc vi phạm những điều đảng viên không được làm. Công tác dân vận có nơi còn hạn chế. Việc thực hiện dân chủ ở cơ sở có lúc, có nơi còn hình thức. Mặt trận Tổ quốc và các tổ chức chính trị - xã hội ở một số địa phương chưa làm tốt vai trò cầu nối giữa Nhân dân với Đảng, Nhà nước; việc góp ý xây dựng Đảng, xây dựng chính quyền hiệu quả chưa cao.

Việc cụ thể hóa theo thẩm quyền một số văn bản luật, chỉ đạo của cấp trên còn chậm. Một số kiến nghị của cử tri chưa được giải quyết dứt điểm. Kết quả cải cách hành chính và cải cách thủ tục hành chính chưa toàn diện.

Tiến độ giải quyết các vụ án, vụ việc thuộc diện cấp ủy theo dõi, chỉ đạo có nội dung còn chậm. Số vụ việc sai phạm liên quan đến tham nhũng, tiêu cực được phát hiện thông qua hoạt động thanh tra, kiểm tra chưa nhiều. Công tác giải quyết khiếu nại, tố cáo còn một số hạn chế.

2. Nguyên nhân hạn chế, khuyết điểm

2.1. Nguyên nhân khách quan

Tình hình thế giới có nhiều diễn biến nhanh, phức tạp, khó lường; xung đột vũ trang, chiến tranh thương mại ở một số nước; đại dịch Covid-19 diễn biến phức tạp, kéo dài; biến đổi khí hậu, thiên tai, nhất là hậu quả của cơn bão số 9 (năm 2020); những bất cập trong các quy định của pháp luật chưa được kịp thời sửa đổi; nguồn lực đầu tư chưa đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội,… đã ảnh hưởng lớn đến việc thực hiện nhiệm vụ chính trị đề ra.

2.2. Nguyên nhân chủ quan

Năng lực dự báo và giải quyết những khó khăn, vướng mắc còn hạn chế. Tổ chức thực hiện vẫn là khâu yếu; sự phối hợp giữa một số cơ quan, đơn vị, địa phương có lúc, có việc thiếu chặt chẽ, chưa đồng bộ, có trường hợp còn đùn đẩy trách nhiệm. Năng lực lãnh đạo, chỉ đạo, quản lý, điều hành của một số cấp ủy, chính quyền, người đứng đầu cơ quan, đơn vị, địa phương chưa thật sự đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ trong tình hình mới; có tình trạng e dè, sợ sai, sợ trách nhiệm. Một số cán bộ, đảng viên, công chức, viên chức chưa thực hiện tốt trách nhiệm công vụ; chưa dám nghĩ, dám làm, dám chịu trách nhiệm vì lợi ích chung. Một bộ phận người dân vẫn còn trông chờ, ỷ lại vào sự hỗ trợ của Nhà nước, chưa có ý thức tự vươn lên thoát nghèo bền vững.

III. BÀI HỌC KINH NGHIỆM

Từ thực tiễn công tác lãnh đạo, chỉ đạo trong nhiệm kỳ qua, rút ra những bài học kinh nghiệm sau đây:

(1) Chú trọng công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng, xây dựng hệ thống chính trị trong sạch, vững mạnh; bảo đảm sự đoàn kết thống nhất trong Đảng bộ. Đổi mới mạnh mẽ phương thức lãnh đạo của Đảng bộ đối với hệ thống chính trị đáp ứng yêu cầu lãnh đạo toàn diện của Đảng trong giai đoạn mới.

(2) Tăng cường đối thoại giữa bí thư các cấp ủy với người dân, góp phần tạo sự đồng thuận trong Nhân dân. Khơi dậy niềm tự hào, ý chí, khát vọng vươn lên của cán bộ, đảng viên và Nhân dân các dân tộc trong tỉnh. Phát huy tiềm năng, lợi thế của tỉnh; huy động và sử dụng hiệu quả các nguồn lực trong xã hội để phát triển.

(3) Bám sát chủ trương của Trung ương, Nghị quyết Đại hội Đảng bộ tỉnh và tình hình thực tiễn để cụ thể hóa, tổ chức thực hiện quyết liệt, hiệu quả các nhiệm vụ đã đề ra với tư duy mới, cách làm mới, bảo đảm khoa học, có trọng tâm, trọng điểm, rõ trách nhiệm, có lộ trình phù hợp; phát huy dân chủ, công khai, minh bạch, khách quan trong lãnh đạo, chỉ đạo, điều hành và bảo đảm vai trò quyết định của cấp ủy và người đứng đầu.

(4) Công tác cán bộ là nhân tố quyết định sự thành bại của việc thực hiện nhiệm vụ chính trị. Tập trung xây dựng đội ngũ cán bộ, đặc biệt là đội ngũ cán bộ chủ chốt có phẩm chất, năng lực, trách nhiệm đối với sự phát triển của tỉnh. Phát huy tính chủ động, sáng tạo, năng lực cụ thể hóa, thể chế hóa, lãnh đạo, chỉ đạo, tổ chức thực hiện của các cấp ủy, tổ chức đảng, cán bộ, đảng viên.

(5) Chú trọng công tác kiểm tra, giám sát, chủ động phòng ngừa sai phạm; lấy xây là chính, kịp thời phát hiện, ngăn chặn, giải quyết sớm các vi phạm, không để vi phạm nhỏ tích tụ thành sai phạm lớn. Kiên quyết đấu tranh phòng, chống tham nhũng, lãng phí, tiêu cực, góp phần củng cố, tăng cường niềm tin của cán bộ, đảng viên và Nhân dân đối với sự lãnh đạo của Đảng.

Phần thứ hai

QUAN ĐIỂM, MỤC TIÊU, CHỈ TIÊU

VÀ PHƯƠNG HƯỚNG, NHIỆM VỤ NHIỆM KỲ 2025 - 2030

I. QUAN ĐIỂM CHỈ ĐẠO

1. Kiên định và vận dụng, phát triển sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, đường lối, chủ trương của Đảng; kiên định mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội; kiên định đẩy mạnh toàn diện, đồng bộ công cuộc đổi mới; kiên định các nguyên tắc xây dựng Đảng.

2. Gắn kết chặt chẽ và triển khai đồng bộ các nhiệm vụ chiến lược, trong đó: Phát triển kinh tế, xã hội và bảo vệ môi trường là trung tâm; xây dựng Đảng là then chốt; phát triển văn hóa, con người là nền tảng; tăng cường quốc phòng, an ninh; đẩy mạnh đối ngoại, hội nhập quốc tế là trọng yếu, thường xuyên.

3. Kiên quyết tháo gỡ kịp thời, dứt điểm các điểm nghẽn, nút thắt; khơi thông và giải phóng sức sản xuất, mọi nguồn lực, phát huy mọi động lực, mở rộng không gian phát triển. Phát huy sức mạnh của khối đại đoàn kết toàn dân tộc; khơi dậy mạnh mẽ tinh thần yêu nước, khát vọng phát triển, ý chí tự chủ, tự tin, tự lực, tự cường, tự hào dân tộc; phát huy sức mạnh văn hóa, con người thành nguồn lực nội sinh và động lực phát triển; đột phá mạnh mẽ khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số; thu hút, trọng dụng nhân tài.

4. Nâng cao đời sống của Nhân dân, thu hẹp khoảng cách phát triển giữa các vùng, miền, tầng lớp nhân dân. Mọi chủ trương, chính sách phải thực sự xuất phát từ nguyện vọng, quyền và lợi ích chính đáng của Nhân dân. Nhân dân là trung tâm, là chủ thể của công cuộc đổi mới. Lấy hạnh phúc, ấm no của Nhân dân làm mục tiêu phấn đấu.

5. Xây dựng, chỉnh đốn Đảng và hệ thống chính trị trong sạch, vững mạnh toàn diện. Tiếp tục khẳng định vai trò, năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu của các cấp ủy, tổ chức đảng. Tiếp tục thực hiện mô hình tổng thể về tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị theo chủ trương của Trung ương. Đẩy mạnh phân cấp, phân quyền, xác định rõ trách nhiệm gắn với tăng cường kiểm tra, giám sát; phát huy tính chủ động, sáng tạo của các địa phương. Thắt chặt mối quan hệ mật thiết giữa Đảng với Nhân dân. Tăng cường kiểm soát quyền lực, kiên quyết, kiên trì đấu tranh phòng, chống tham nhũng, lãng phí, tiêu cực.

II. MỤC TIÊU, CHỈ TIÊU

1. Mục tiêu phát triển: Xây dựng, chỉnh đốn Đảng và hệ thống chính trị trong sạch, vững mạnh toàn diện, tăng cường niềm tin của Nhân dân đối với Đảng. Phát huy truyền thống cách mạng anh hùng, đại đoàn kết toàn dân tộc; liên kết và phát huy tiềm năng, lợi thế của mỗi vùng, huy động và sử dụng hiệu quả các nguồn lực để phát triển kinh tế - xã hội; đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số; nâng cao chất lượng nguồn nhân lực; chủ động thích ứng với biến đổi khí hậu và bảo vệ môi trường; bảo đảm vững chắc quốc phòng, an ninh, giữ vững ổn định chính trị, trật tự an toàn xã hội; tăng cường đối ngoại; nâng cao toàn diện đời sống Nhân dân. Phấn đấu đến năm 2030, Quảng Ngãi là tỉnh phát triển khá, trở thành một cực tăng trưởng quan trọng ở khu vực miền Trung - Tây Nguyên.

2. Các chỉ tiêu chủ yếu (các số liệu này sẽ tiếp tục được chuẩn xác)

2.1. Các chỉ tiêu về kinh tế

(1) Phấn đấu tốc độ tăng trưởng tổng sản phẩm trên địa bàn (GRDP) bình quân giai đoạn 2026 - 2030 tăng 9% - 9,5%/năm.

(2) Năng suất lao động xã hội tăng bình quân 8% - 9%/năm.

(3) Đến năm 2030, GRDP bình quân đầu người khoảng 6.900 - 7.000 USD.

(4) Thu nhập bình quân đầu người (giá hiện hành) tăng bình quân 9% - 10%/năm.

(5) Đến năm 2030, tỷ trọng công nghiệp - xây dựng và dịch vụ trong GRDP chiếm khoảng 74 - 75%; trong đó, công nghiệp - xây dựng chiếm khoảng 43% - 44%.

(6) Đến năm 2030, tỷ trọng kinh tế số trong GRDP đạt tối thiểu 27,5%.

(7) Vốn đầu tư thực hiện trên địa bàn trong 5 năm đạt ít nhất 560.000 tỷ đồng.

2.2. Các chỉ tiêu về văn hóa - xã hội.

(8) Đến năm 2030, tỷ lệ lao động nông nghiệp trong tổng lao động xã hội dưới 38,7%.

(9) Đến năm 2030, tỷ lệ lao động qua đào tạo có bằng cấp, chứng chỉ trên 30,6%.

(10) Đến năm 2030, không còn hộ nghèo (theo quy định về chuẩn nghèo của Trung ương).

2.3. Các chỉ tiêu về môi trường - đô thị

(11) Đến năm 2030, duy trì tỷ lệ độ che phủ rừng ổn định ở mức 60%.

2.4. Các chỉ tiêu về quốc phòng, an ninh

(12) Hằng năm, 100% đơn vị hành chính cấp xã đạt tiêu chuẩn vững mạnh về quốc phòng, trong đó vững mạnh toàn diện đạt khoảng 70%.

(13) Hằng năm, có ít nhất 80% khu dân cư, đơn vị hành chính cấp xã, cơ quan, doanh nghiệp, cơ sở giáo dục đạt tiêu chuẩn an toàn về an ninh, trật tự.

III. PHƯƠNG HƯỚNG, NHIỆM VỤ

1. Phát triển kinh tế - xã hội

1.1. Đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa gắn với cơ cấu lại nền kinh tế và đổi mới mô hình tăng trưởng, phát triển nhanh và bền vững

1.1.1. Tiếp tục đẩy mạnh đổi mới mô hình tăng trưởng, cơ cấu lại nền kinh tế

1.1.2. Đẩy mạnh phát triển công nghiệp theo hướng hiện đại, phát triển theo chiều sâu

1.1.3. Phát triển nhanh, đa dạng các loại hình dịch vụ, các sản phẩm dịch vụ chất lượng cao, giá trị gia tăng cao; phát triển du lịch

1.1.4. Phát triển nông, lâm, thủy sản hiệu quả, bền vững, nâng cao giá trị gia tăng

1.1.5. Phát triển kết cấu hạ tầng đồng bộ, hiện đại; phát triển đô thị và đẩy mạnh xây dựng nông thôn mới

1.1.6. Cải thiện mạnh mẽ môi trường đầu tư; huy động và sử dụng hiệu quả các nguồn lực để phát triển kinh tế - xã hội

1.2. Phát triển văn hóa - xã hội, nâng cao đời sống vật chất, tinh thần của Nhân dân

1.2.1. Tiếp tục phát triển văn hóa, con người Quảng Ngãi đáp ứng yêu cầu hội nhập và phát triển bền vững

1.2.2. Đẩy mạnh đổi mới căn bản, toàn diện, hiệu quả giáo dục và đào tạo; phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao

1.2.3. Đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số

1.2.4. Tiếp tục nâng cao chất lượng khám, chữa bệnh và chăm sóc sức khỏe Nhân dân

1.2.5. Thực hiện tốt chính sách xã hội, bảo đảm an sinh xã hội và giảm nghèo bền vững

1.3. Quản lý và sử dụng hiệu quả tài nguyên, bảo vệ môi trường; chủ động ứng phó với thiên tai và thích ứng với biến đổi khí hậu

2. Nâng cao hiệu lực, hiệu quả công tác nội chính; bảo đảm quốc phòng, an ninh

3. Nâng cao hiệu quả hoạt động đối ngoại và hội nhập quốc tế

4. Tăng cường xây dựng Đảng và hệ thống chính trị trong sạch, vững mạnh toàn diện

4.1. Xây dựng Đảng về chính trị, tư tưởng, đạo đức

4.2. Tiếp tục đổi mới, hoàn thiện tổ chức bộ máy và nâng cao hiệu quả hoạt động của hệ thống chính trị

4.3. Tăng cường củng cố, xây dựng tổ chức cơ sở đảng và nâng cao chất lượng đội ngũ đảng viên

4.4. Tập trung xây dựng đội ngũ cán bộ các cấp; tăng cường bảo vệ chính trị nội bộ

4.5. Nâng cao hiệu lực, hiệu quả công tác kiểm tra, giám sát, kỷ luật của Đảng

4.6. Phát huy truyền thống đoàn kết, tạo sự đồng thuận xã hội, thắt chặt mối quan hệ mật thiết giữa Đảng với Nhân dân, dựa vào Nhân dân để xây dựng Đảng, hệ thống chính trị và phát triển kinh tế - xã hội

4.7. Đổi mới mạnh mẽ phương thức lãnh đạo, chỉ đạo của các cấp ủy; nâng cao năng lực lãnh đạo của Đảng

4.8. Xây dựng chính quyền kiến tạo phát triển, liêm chính, hành động và nâng cao hiệu quả hoạt động của Đoàn đại biểu Quốc hội tỉnh

4.9. Tiếp tục đẩy mạnh, kiên quyết, kiên trì đấu tranh phòng, chống tham nhũng, lãng phí, tiêu cực

IV. CÁC NHIỆM VỤ TRỌNG TÂM VÀ ĐỘT PHÁ NHIỆM KỲ 2025 - 2030

1. 05 nhiệm vụ trọng tâm

(1) Tăng cường xây dựng, chỉnh đốn Đảng và hệ thống chính trị, củng cố niềm tin của Nhân dân đối với Đảng bộ, chính quyền.

(2) Tiếp tục đẩy mạnh phát triển công nghiệp, trọng tâm là công nghiệp nền tảng, thúc đẩy hình thành Trung tâm lọc, hóa dầu và năng lượng quốc gia tại Khu kinh tế Dung Quất.

(3) Phát triển nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao gắn với chế biến và thị trường tiêu thụ.

(4) Đẩy mạnh phát triển du lịch; phát triển Lý Sơn trở thành trung tâm du lịch biển - đảo và Khu du lịch Măng Đen trở thành trung tâm du lịch sinh thái, nghỉ dưỡng.

(5) Thực hiện có hiệu quả công tác giảm nghèo bền vững, nâng cao đời sống Nhân dân.

2. 03 nhiệm vụ đột phá

(1) Đầu tư phát triển kết cấu hạ tầng đồng bộ, hiện đại, ưu tiên hạ tầng giao thông, đô thị, công nghệ phục vụ cho quá trình chuyển đổi số, chuyển đổi xanh, chuyển đổi năng lượng để phát triển nhanh và bền vững, thích ứng với biến đổi khí hậu.

(2) Tiếp tục nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, nhất là đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý chủ chốt cấp tỉnh, cấp xã, có đủ phẩm chất, năng lực, tư duy mới, uy tín, ngang tầm nhiệm vụ.

(3) Tập trung cải cách hành chính, phát triển chính quyền điện tử; phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số; nâng cao năng lực cạnh tranh; đẩy mạnh hội nhập quốc tế.

 

Chi tiết dự thảo Báo cáo tại đây:

(Nguồn:quangngai.dcs.vn)

VĂN BẢN MỚI
LIÊN KẾT WEB
Thống kê truy cập
Hôm nay: 1,139
Hôm qua: 2,579
Tuần này: 11,751
Tuần trước: 21,958
Tháng này: 578,453
Tháng trước: 390,098
Tổng lượt truy cập: 4,624,439
Số người online: 170